Ứng dụng chứng khoán hóa trong huy động vốn tại việt nam

Tiền nhận được từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng để các tổ chức này cho người thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp, nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Quá trình này là quá trình biến các tài sản có tính thanh khoản thấp thành những chứng khoán có tính thanh khoản cao.

  1. Lịch sử hình thành, khái niệm chứng khoán hóa và chủ thể tham gia

Chứng khoán hóa là một kỹ thuật tài chính ra đời từ thị trường tài chính Hoa Kỳ vào đầu những năm 1970 với việc phát triển của thị trường chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản vay có thế chấp (mortgage back securities – MBS). Việc huy động vốn thông qua hình thức này bùng nổ vào những năm tiếp theo với các giao dịch phát hành chứng khoán được đảm bảo bằng các tài sản không có thế chấp (asset backed securities – ABS) kể từ năm 1985.

Chứng khoán hóa được du nhập vào Châu Âu vào giữa những năm 80 đánh dấu bằng giao dịch chứng khoán hóa đầu tiên được tiến hành ở Anh năm 1987 dưới dạng MBS. Giá trị các giao dịch chứng khoán hóa đã tăng lên rất nhanh với các đợt phát hành trên thị trường Châu Âu thống nhất mà chủ yếu là các thị trường Pháp, Đức và Ý.

rui ro1

Tại Châu Á, các giao dịch chứng khoán hóa trở nên phổ biến đầu tiên tại Nhật Bản và Hồng Kông, là những quốc gia có thị trường bất động sản rất phát triển vào đầu những năm 1990. Các giao dịch chứng khoán hóa với việc phát hành ABS trở nên phổ biến tại Thái Lan, In-đô-nê-xia, Phi-líp-pin và Hàn Quốc vào những năm tiếp theo mặc dù có một giai đoạn tạm lắng xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á vào năm 1997-1998.

(Tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến – Ảnh minh họa)

Ngày nay các giao dịch chứng khoán hóa đã trở nên rất phổ biến trên các thị trường tài chính khu vực và quốc tế, trong đó rất nhiều giao dịch được thực hiện ở phạm vi đa quốc gia (cross-border) và phát hành trái phiếu Châu Âu (euro bonds).

Tại Việt Nam, cho tới nay kỹ thuật chứng khoán hóa chưa được phổ biến, mặc dù trên thực tế đã có một số giao dịch phát hành chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được thực hiện.

ưqewq

Có bốn loại chủ thể liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đó là: (1) người thế chấp và đi vay, (2) tổ chức tập hợp tài sản thế chấp rồi phát hành chứng khoán, (3) nhà đầu tư mua bán chứng khoán, và (4) tổ chức tín dụng cho vay. Với bốn loại chủ thể kinh tế, thay vì hai loại là người thế chấp – đi vay và tổ chức tín dụng cho vay, rủi ro được chuyển từ tổ chức tài chính sang nhà đầu tư trái phiếu đảm bảo bằng tài sản. Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào một tập hợp cũng là một hình thức phân tán rủi ro. Vì thế, đã có cách gọi các trung gian tài chính tham gia vào chứng khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi ro. Hai loại chủ thể kinh tế trung gian giữa người đi vay và tổ chức tín dụng cho vay đóng vai trò trung gian – môi giới, nên giúp cho người vay và tổ chức tín dụng dễ “gặp nhau” hơn. Ngoài ra, chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài chính. Dù người đi vay có mức xếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt thì chứng khoán đảm bảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán. Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp.

  1. Sự cần thiết phải ứng dụng trong hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998 và đặc biệt là cuộc khủng hoảng hiện nay, bắt đầu từ năm 2007, các nhà hoạch định chính sách càng chú trọng đến vai trò của hệ thống ngân hàng và thị trường vốn ở những nước đang phát triển. Với những kinh nghiệm đúc kết từ cuộc khủng hoảng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải phát triển thị trường trái phiếu trong nước để làm sao việc huy động vốn thông qua hình thức này trở thành nguồn huy động nợ thay thế không chỉ ở những nền kinh tế trực tiếp trải qua cuộc khủng hoảng mà cả ở những nền kinh tế đang phát triển có quá nhiều khoản nợ với ngân hàng. Sự cần thiết phát triển thị trường trái phiếu trong nước được rút ra từ những luận luận điểm chủ yếu sau đây:

123

– Thứ nhất, sự phụ thuộc quá mức vào hệ thống ngân hàng để tài trợ dài hạn tất yếu dẫn đến sự suy yếu của hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Việc thiết lập một thị trường vốn trong nước hiệu quả, cụ thể là thị trường trái phiếu, sẽ mang đến cho các doanh nghiệp các công cụ huy động nợ thay thế khi khả năng cấp tín dụng của ngân hàng đã bị hạn chế, đồng thời sẽ giúp loại bỏ được những tác động xấu tiềm ẩn mà một sự tăng trưởng tín dụng ngân hàng quá mức có thể gây ra cho nền kinh tế. Mặt khác, sự phát triển thị trường trái phiếu trong nước có thể giúp đẩy nhanh tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng bằng việc cho phép hệ thống này cấu trúc lại bảng cân đối của mình thông qua chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi.

– Thứ hai, thị trường trái phiếu trong nước giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí tài trợ bằng hai cách. Một là bằng việc phát hành trái phiếu, doanh nghiệp vay trực tiếp từ nhà đầu tư, bỏ qua vai trò trung gian của ngân hàng thương mại, do vậy giảm bớt được chi phí trung gian. Hai là, khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp hạn chế tốt hơn rủi ro không phù hợp về thời hạn và tiền tệ giữa tài sản và nguồn nợ, từ đó giúp giảm chi phí vốn tổng thể của doanh nghiệp.

– Thứ ba, thị trường trái phiếu đem lại một sự đánh giá tín dụng hiệu quả. Trong các nền kinh tế mà chưa có hoặc có nhưng thị trường trái phiếu chưa phát triển, lãi suất cho vay của các ngân hàng đưa ra có thể được ấn định dựa trên cơ sở cạnh tranh, do vậy không phản ánh được chi phí cơ hội thực sự của vốn. Chẳng hạn, các ngân hàng có thể thỏa thuận với nhau để ấn định mức lãi suất mà doanh nghiệp phải chấp nhận vì không có lựa chọn nào khác. Trên thực tế, nhiều ngân hàng không có đủ năng lực trong thẩm định rủi ro tín dụng, và những thước đo sai lệch về chi phí cơ hội có thể khiến cho doanh nghiệp sử dụng vốn vay kém hiệu quả. Với một thị trường trái phiếu phát triển, lãi suất trái phiếu là thước đo sự đánh giá mức độ tín nhiệm của thị trường đối với trái phiếu đó. Nói cách khác, với việc sử dụng giá cả làm tín hiệu trong một thị trường trái phiếu phát triển, các doanh nghiệp sẽ xác định đúng được chi phí vốn khi đưa ra các quyết định đầu tư. Điều này góp phần phân bổ hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.

– Thứ tư, thị trường trái phiếu đem lại sự phát triển bền vững về tài chính. Ở những nền kinh tế không có thị trường trái phiếu, phần lớn nợ của doanh nghiệp đều được huy động từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Với việc cung cấp các khoản vay tín dụng dài hạn, các ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro rất cao do sự không phù hợp về thời hạn giữa nguồn (nhận tiền gửi ngắn hạn) và tài sản (các khoản vay có thời hạn dài). Mặt khác, trong các nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam, chỉ có một số ít ngân hàng chiếm thị phần lớn trong tổng tín dụng cho nền kinh tế. Hơn nữa, tín dụng phân bổ không đều mà được chú trọng vào một số khu vực (chẳng hạn như tập trung vào khu vực doanh nghiệp nhà nước), điều này làm tăng mức độ rủi ro hệ thống trong một nền kinh tế dựa quá nhiều vào vay nợ từ ngân hàng.

Từ những phân tích trên đây về những nguy cơ đối với một nền kinh tế quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng để đầu tư phát triển (mà Việt Nam là một điển hình) và những lợi ích của việc có một thị trường trái phiếu của mình đã cho thấy sự cần thiết phải có một thị trường trái phiếu tại Việt Nam.

Phát triển thị trường trái phiếu, một mặt là giải pháp cho những khó khăn trong hoạt động huy động vốn dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, mặt khác sẽ góp phần đưa lại sự phát triển ổn định, bền vững cho toàn bộ nền kinh tế. Chứng khoán hóa là một trong những kỹ thuật tài chính phát triển nhất đã và đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều thị trường trái phiếu khu vực và quốc tế do đem lại rất nhiều lợi ích riêng cho doanh nghiệp huy động vốn. Vì vậy, đã đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam cần nghĩ đến việc ứng dụng chứng khoán hóa trong hoạt động huy động vốn dài hạn của mình. Một mặt, chứng khoán hóa là phương thức huy động vốn đem lại rất nhiều lợi ích cho những doanh nghiệp có tài sản tài chính phù hợp cho các quy trình chứng khoán hóa, mà nhiều lợi ích trong số đó không thể có được với các phương thức huy động vốn khác. Mặt khác, với trình độ phát triển ở mức sơ khai của thị trường chứng khoán Việt Nam, phát hành trái phiếu doanh nghiệp thông qua kỹ thuật chứng khoán hóa sẽ dễ thu hút sự quan tâm, chấp nhận của công chúng đầu tư do tính an toàn cao của trái phiếu, do vậy khả năng thành công của đợt phát hành là rất cao, đồng thời qua đó sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, sự cần thiết ứng dụng chứng khoán hóa ở Việt Nam đã được Chính phủ chính thức ghi nhận. Kế hoạch hành động Hà Nội vào năm 2000 trong khuôn khổ ASEAN mà các nước thành viên cam kết thực hiện đã đưa ra phương án hợp tác về phát triển thị trường vốn bao gồm 11 điểm, trong đó có cam kết về thức đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán hóa, mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp với các nước bạn thực hiện cam kết này. Như vậy, Chính phủ đã chính thức có một cam kết quốc tế về phát triển thị trường chứng khoán hóa ở Việt Nam. Trong khuôn khổ hợp tác, khung thời gian đặt ra là năm 2003 các nước cần có những biện pháp để thúc đẩy và phát triển thị trường chứng khoán hóa tại nước mình. Riêng đối với các thành viên mới như Việt Nam thì thời hạn này có thể kéo dài hơn. Như vậy, cam kết của Chính phủ với các nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực phát triển thị trường chứng khoán hóa trong giai đoạn sắp tới càng khẳng định sự cần thiết phải ứng dụng chứng khoán hóa trong hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam.

Hiện nay chúng ta đã có một số tiền đề thuận lợi để doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua ứng dụng chứng khoán hóa. Tiền đề đầu tiên là đã có những tài sản tài chính phù hợp cho chứng khoán hóa được hình thành từ hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, điện lực, sản xuất hàng xuất khẩu (nông sản, may mặc, chế biến thủy hải sản…) hay phát triển hạ tầng kinh doanh nhà ở là các đối tượng có nguồn tài sản tài chính phù hợp với giao dịch chứng khoán hóa. Các doanh nghiệp này có thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định và do vậy các tài sản tài chính do các doanh nghiệp này khởi tạo sẽ phát sinh dòng tiền ổn định. Thêm vào đó, tính phân tán rủi ro của tập hợp các tài sản tài chính trong các lĩnh vực này tương đối lớn, đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông, dầu khí hay điện lực, với mạng lưới khách hang trải rộng không chỉ trong nước mà ngay cả ra quốc tế.

Về điều kiện thị trường, thị trường chứng khoán tập trung đã hình thành với sự ra đời và chính thức hoạt động của Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và gần đây là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sau vài năm hoạt động, ngoài việc đóng vai trò là một sàn giao dịch cho các chứng khoán tạo ra từ ứng dụng chứng khoán hóa trong tương lai, các Sở Giao dịch Chứng khoán đã tạo ra một thế hệ các nhà đầu tư mới, những người đã làm quen với các kỹ thuật đầu tư trên thị trường chứng khoán và không khó để thuyết phục họ đầu tư vào các chứng khoán này.

Trong thời gian gần đây, các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu ngân hàng trên thị trường tập trung (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Quân đội) và trái phiếu doanh nghiệp (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) thành công đã tạo tiền lệ tốt để các doanh nghiệp dựa vào đó định giá chứng khoán.

Các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam khác đang trong quá trình cải tổ và tiếp thu được các công nghệ ngân hàng hiện đại. Các tổ chức tài chính này là những tổ chức tiềm năng cung cấp các dịch vụ tài chính mới phù hợp với các giao dịch chứng khoán hóa khi có nhu cầu. Ngoài ra, sự có mặt của năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, hơn 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh là một thuận lợi đáng kể để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận với các dịch vụ tài chính hay tư vấn cần thiết trong chứng khoán hóa.

Tốc độ phát triển tương đối nhanh của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam dẫn tới việc các công ty bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam (trong đó có ba công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài do các tập đoàn bảo hiểm quốc tế hàng đầu thành lập) tìm kiếm các kênh đầu tư mới để đầu tư tiền thu về từ phí bảo hiểm. Các công ty này có thể là các nhà đầu tư tiềm năng nhất của chứng khoán MBS/ABS.

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật và hệ thống các chuẩn mực kế toán mới. Đây là dịp để các nhà quản lý tham khảo kinh nghiệm ở các nước khác trong việc xây dựng và quản lý thị trường chứng khoán hóa để đưa nghiên cứu áp dụng vào hệ thống pháp luật và kế toán Việt Nam sao cho các doanh nghiệp có thể ứng dụng thành công kỹ thuật chứng khoán hóa trong điều kiện Việt Nam.

Mặc dù có những tiềm năng như phân tích trên đây, nhưng cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một doanh nghiệp nào ứng dụng chứng khoán hóa trong hoạt động huy động vốn của mình. Thực tế này xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, chúng ta chưa có hệ thống pháp lý phù hợp cho chứng khoán hóa. Hơn nữa, mặc dù đã có cam kế chính thức trong khuôn khổ ASEAN về phát triển thị trường chứng khoán hóa nhưng trên thực tế, Chính phủ chưa đề ra một chính sách hay chương trình hành động nào để thúc đẩy thực hiện cam kết này.

Thứ hai, thị trường chứng khoán mặc dù đã có nhưng còn ở trình độ phát triển rất sơ khai, thị trường phi tập trung còn chưa được hình thành, mà từ thực tế ở các nước thì đây là thị trường rất quan trọng đối với các giao dịch chứng khoán hóa để chứng khoán được phát hành và mua bán.

Thứ ba, mặc dù các ngân hàng thương mại quốc doanh có vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính ở Việt Nam, nhưng tiến trình cải cách của các ngân hàng này diễn ra rất chậm chạp nên chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực quản lý và khả năng tài chính để có thể thực hiện được vai trò tổ chức tài chính trung gian trong giao dịch chứng khoán hóa.

–  Thứ tư, trong nhiều năm qua các doanh nghiệp Việt Nam đã quá quen với tập quán vay tín dụng ngân hàng trong nước vì phương thức này đơn giản, thuận tiện, phù hợp với thực trạng trình độ quản trị tài chính yếu kém của các doanh nghiệp hiện nay. Mặt khác, theo đánh giá của IMF, trong những năm qua, do năng lực quản lý và khả năng đánh giá rủi ro tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam yếu kém, dẫn đến tình trạng cho vay dưới mức lãi suất thị trường đối với nhiều khoản vay có giá trị rất lớn (như các khoản cho vay cho các dự án trong lĩnh vực điện lực và dầu khí). Như vậy, việc dễ tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng trong nước với chi phí vay thấp là nguyên nhân cơ bản khiến cho các doanh nghiệp ngại ứng dụng các phương thức huy động nợ thay thế, trong đó có chứng khoán hóa. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, tình trạng này đã đẩy cả khu vực doanh nghiệp và ngân hàng đến sự mất ổn định về cơ cấu tài chính, và đến nay các ngân hàng thương mại quốc doanh đã bắt đầu thận trọng hơn trong hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các dự án có nhu cầu vốn lớn.

  1. Xây dựng hệ thống pháp lý cho hoạt động chứng khoán hóa

Để xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán hóa không thể thiếu việc xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế phù hợp với tập quán quốc tế và các chuẩn mực kinh doanh hiện đại. Trong những năm gần đây, mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực cải cách pháp luật, Việt Nam vẫn chưa có được một hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh và đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn kinh doanh trong xu hướng hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế toàn cầu. Riêng về thị trường chứng khoán hóa, những vấn đề sau đây có thể xem như là các tiền đề pháp lý cần được các nhà lập pháp nghiên cứu để tạo ra một khung pháp lý phù hợp với sự phát triển của thị trường chứng khoán hóa và rộng hơn là của cả thị trường vốn Việt Nam.

(i) Chế độ pháp lý đối với tổ chức tập hợp tài sản thế chấp rồi phát hành chứng khoán

Trong giao dịch chứng khoán hóa, việc lựa chọn hình thức pháp lý của tổ chức tập hợp tài sản thế chấp rồi phát hành chứng khoán có ý nghĩa quan trọng. Theo quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2005, chỉ có hai hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với chức năng của tổ chức tập hợp tài sản thế chấp là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn vì những doanh nghiệp này được phép phát hành chứng khoán (công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có thể phát hành chứng khoán nợ). Trong các giao dịch chứng khoán hóa quốc tế hay giao dịch chứng khoán hóa theo luật Anh Mỹ, có thể thấy tổ chức tập hợp tài sản thế chấp thường được thành lập theo hình thức quỹ tín thác (trust). Hình thức quỹ tín thác cho phép một số nhà đầu tư có quyền sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản của quỹ được quản lý bởi một bên được tín thác (trustee) và do không phải là một pháp nhân độc lập nên không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp (Steven L. Schawarcz. Commercial Trusts as Business Organizations: Unravelling the Mystery).

Hiện nay, pháp luật Việt Nam cho phép thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý bởi công ty quản lý quỹ và có một số đặc điểm pháp lý gần giống với quỹ tín thác. Theo những quy định này, quỹ đầu tư được hình thành từ vốn góp của người đầu tư và được ủy thác cho một công ty quản lý để quản lý quỹ. Ngoài ra, tài sản của quỹ đầu tư thuộc sở hữu chung của các người đầu tư và hoàn toàn tách biệt với tài sản của công ty quản lý quỹ, do đó nếu công ty quản lý quỹ bị phá sản thì tài sản của quỹ đầu tư không được sử dụng để thanh toán nợ cho công ty quản lý quỹ. Mặc dù vậy, quỹ đầu tư được thành lập theo các quy định nêu trên không phải là một hình thức phù hợp đối với tổ chức tập hợp tài sản thế chấp trong giao dịch chứng khoán hóa. Cụ thể là quỹ đầu tư chứng khoán phải đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào các loại chứng khoán và chỉ công ty quản lý quỹ mới được phép xin thành lập quỹ. Như trình bày ở các phần trên, trong giao dịch chứng khoán, tổ chức tập hợp tài sản thế chấp chỉ được phép đầu tư vào các khoản phải thu của người thế chấp và đi vay. Ngoài ra, phần lớn các tổ chức tập hợp tài sản thế chấp đều do người thế chấp và đi vay thành lập. Do vậy quỹ đầu tư chứng khoán không thể là một hình thức tổ chức phù hợp cho tổ chức tập hợp tài sản thế chấp trong giao dịch chứng khoán hóa tại Việt Nam.

Có một điểm đáng lưu ý là Trung Quốc, một nước có hệ thống pháp lý tương đối giống với hệ thống pháp luật Việt Nam, đã ban hành luật về quan hệ tín thác từ năm 2000. Như vậy để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn thông qua giao dịch chứng khoán hóa có cơ hội lựa chọn các hình thức để thành lập tổ chức tập hợp tài sản thế chấp, thiết nghĩ các nhà làm luật Việt Nam cần nghiên cứu việc cho phép các doanh nghiệp thành lập quỹ tín thác cho các giao dịch chứng khoán hóa. Quỹ tín thác này có tài sản hoàn toàn tách bạch với bên thế chấp và đi vay và chỉ đầu tư vào các khoản phải thu và được phép phát hành chứng khoán dưới dạng chứng chỉ quỹ với các mức độ ưu tiên thanh toán khác nhau.

(ii) Chế độ đăng ký kinh doanh

Theo quy định hiện hành, mọi doanh nghiệp đều phải đăng ký ngành nghề kinh doanh tại phòng đăng ký kinh doanh (theo hệ thống mã số ngành nghề theo quy định). Trong giao dịch chứng khoán hóa, tổ chức tập hợp tài sản thế chấp bị hạn chế không cho phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nếu không có đăng ký kinh doanh, tổ chức tập hợp tài sản thế chấp không có tư cách pháp lý để có thể tham gia vào giao dịch chứng khoán hóa. Do vậy, trong tương lai, khi thị trường chứng khoán hóa bắt đầu hình thành, cần cho phép bổ sung ngành nghề hoạt động chứng khoán hóa để có thể đăng ký kinh doanh cho các tổ chức tập hợp tài sản thế chấp.

(iii) Luật Phá sản

Từ góc độ pháp lý, những quy định về phá sản doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ tới tính khả thi của giao dịch chứng khoán hóa dự kiến. Về phương diện này, các nhà đầu tư thường quan tâm trong trường hợp bên thế chấp và đi vay bị phá sản cũng không ảnh hưởng tới quyền sở hữu các tài sản tài chính cũng như khả năng trả nợ của tổ chức tập hợp tài sản thế chấp.

Mặc dù Việt Nam đã ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp nhưng thực tiễn cho thấy, những quy định của luật này chưa đáp ứng được sự phát triển của kinh tế – xã hội. Đối với các nhà đầu tư trong giao dịch chứng khoán hóa, việc tòa án có thể coi các giao dịch bán tài sản trong vòng sáu tháng trước ngày nộp đơn phá sản của doanh nghiệp là vô hiệu và phải được hoàn trả lại cho doanh nghiệp phá sản là một rủi ro pháp lý đáng cân nhắc. Ngoài ra Luật Phá sản doanh nghiệp cũng chưa quy định rõ cách thức xử lý phần vốn góp của doanh nghiệp phá sản trong vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp khác. Do vậy, trong trường hợp bên thế chấp và cho vay phá sản, các nhà đầu tư vào chứng khoán nợ do tổ chức tập hợp tài sản thế chấp (nếu do bên thế chấp và cho vay tài sản thành lập) phát hành có thể gặp một số rủi ro. Một là tòa án có thể yêu cầu các bên mua hàng trong giao dịch gốc phải thanh toán trực tiếp cho bên thế chấp và đi vay để lấy tiền trả nợ. Hai là nếu tổ chức tập hợp tài sản thế chấp được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thì tổ chức tập hợp tài sản thế chấp này có thể bị giải thể vì thành viên sáng lập bị phá sản. Như vậy, Luật Phá sản doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện theo hướng (a) coi mọi khoản phải thu đã được bên thế chấp và đi vay chuyển nhượng hợp thức cho tổ chức tập hợp tài sản thế chấp, là tài sản của tổ chức tập hợp tài sản thế chấp và do đó không được sử dụng để thanh toán nợ cho bên thế chấp và đi vay, và (b) khẳng định sự tồn tại độc lập của tổ chức tập hợp tài sản thế chấp trong trường hợp bên thế chấp và đi vay bị phá sản và tạo ra cơ chế cho phép một tổ chức quản lý sẽ đứng ra quản lý tổ chức tập hợp tài sản thế chấp và thu hồi các khoản phải thu cho tổ chức tập hợp tài sản thế chấp.

Nhìn chung, để chứng khoán hóa có tính khả thi tại Việt Nam thì hệ thống pháp luật hiện hành cần phải được đổi mới. Tuy nhiên, do đặc thù của chứng khoán hóa nên việc sửa đổi những nội dung có liên quan của các luật khác nhau rất phức tạp. Vì vậy, một số nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hoặc Đài Loan đã ban hành luật riêng về chứng khoán hóa nhằm tạo ra một khung pháp lý thống nhất cho các giao dịch chứng khoán hóa nhưng cũng không làm ảnh hưởng tới các giao dịch tài chính khác như phát hành chứng khoán nói chung hay bao thanh toán (factoring). Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong khi nghiên cứu xây dựng luật chứng khoán hóa của mình. Về hình thức văn bản pháp lý, bước đầu luật chứng khoán hóa của Việt Nam có thể được thể hiện dưới hình thức nghị định do Chính phủ ban hành hướng dẫn thí điểm các giao dịch chứng khoán hóa.

Ngoài ra, cũng cần xác định cơ quan quản lý nhà nước đối với các giao dịch chứng khoán hóa. Nói chung, các giao dịch chứng khoán hóa khi được thực hiện tại Việt Nam có thể nằm trong tầm quản lý của ba cơ quan Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn bằng kỹ thuật chứng khoán hóa, Chính phủ cần cân nhắc áp dụng cơ chế “một cửa” theo đó có thể chỉ định Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan cấp phép và quản lý các giao dịch chứng khoán hóa.

Leave a Reply

Your email address will not be published.